CỘI NGUỒN (ORIGIN STORY: A BIG HISTORY OF EVERYTHING) – David Christian

P26: Timeline đưa ra mốc cơ bản cho nguồn gốc lịch sử hiện đại.

Entropy: xu hướng gia tăng tính mất trật tự.

Bốn loại năng lượng chung: (1) lực (tương tác) hấp dẫn, (2) lực điện từ, (3) (4) lực hạt nhân mạnh và yếu.

  1. Có cường độ yếu nhưng phạm vi tác dụng lớn, kéo mọi vật lại gần nhau, sức mạnh càng lúc càng tăng. Xu hướng chung là làm vũ trụ co lại thành một khối. Tương tác này dù nhỏ bé nhưng lại đóng vai trò định hình vũ trụ trên quy mô lớn.
  2. Tồn tại ở cả dạng hút và đẩy, hai dạng này thường cân bằng với nhau. Tương tác này chiếm ưu thế ở cấp độ hóa học và sinh học, là nguyên nhân giữ cho cơ thể chúng ta có hình dạng xác định. Tạo ra các phân tử, nguyên tử, cách các nguyên tử kết hợp và tái kết hợp để tạo thành sự đa dạng vật chất.
  3. Và (4). Có độ lớn đáng kể ở khoảng cách rất nhỏ, đóng vai trò ở thang hạ nguyên tử. Con người không trực tiếp cảm nhận được tương tác này, chúng không định hình mọi khía cạnh thế giới, vì chúng xác định những gì xảy ra sâu bên trong nguyên tử.

1 số term xuyên suốt:

Nhiệt độ

Năng lượng

Vật chất – Phản vật chất

1 số phương pháp đo:

P60 Sóng hấp dẫn (bằng máy LIGO): đã đó được sự va chạm của 2 lỗ đen vào 1 thiên hà xa xôi khoảng 100 triệu năm trước.

Hiệu ứng Doppler: đo tốc độ dịch chuyển về phía xa hoặc gần chúng ta (Trái Đất) của các ngôi sao và tinh vân – đo tần số của ngôi sao đó.

Sao biến quang Cepheid – ngôi sao có độ sáng thay đổi rất đều đặn. Giúp tính khoảng cách từ Trái Đất tới một ngôi sao.

P68 Biểu đồ Hertzsprung-Russell (H-R) phân loại các ngôi sao theo 2 tính chất cơ bản là nhiệt độ và (màu sắc) và độ sáng (năng lượng).

Máy quang phổ: xác định các nguyên tố hóa học, và số lượng của chúng ở các bụi sao

Ngưỡng 1: tạo ra các thành phần cơ bản của nguyên tử (proton, neutron, electron), hạt nhân nguyên tử quark, và sau đó là các nguyên tử đầu tiên như Hydro, Heli.

Ngưỡng 2: Thiên hà và sao đầu tiên xuất hiện

Ngưỡng 3: Các nguyên tố trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học xuất hiện từ sự chết của các ngôi sao lớn. Sự sinh ra và chết đi của các ngôi sao, và lỗ đen (black hole).

Ngưỡng 4: Phân tử và Mặt trăng

Nói kỹ hơn về các bụi sao, hóa học (khám phá cách thức mà lực điện từ tạo ra các phân tử, nguyên tử, cách các nguyên tử kết hợp và tái kết hợp để tạo thành sự đạ dạng vật chất trong thế giới của chúng ta). Sự hình thành của Mặt trăng ( có lẽ cũng được hình thành từ một vụ va chạm giữa Trái Đất non trẻ và một hành tinh có size Sao Hỏa ~100 triệu năm sau khi Hệ Mặt trời ra đời). Sự hình thành Trái Đất, các nguyên tố có trong lõi Trái Đất. Cách đo tuổi Trái Đất bằng bức xạ (khoảng 4,5 tỉ năm).

Ngưỡng 5: Sự sống 

– Định nghĩa sự sống: gồm 5 đặc điểm.

  1. Các sinh vật sống có cấu tạo từ các tế bào bao bọc bởi màng bán thấm
  2. Có sự trao đổi chất; có cơ chế sử dụng năng lượng từ môi trường để sắp xếp các nguyên tử/phân tử thành cấu trúc phức tạp phù hợp để tồn tại
  3. Có thể điều chỉnh để thay đổi môi trường bằng cách cân bằng nội môi 
  4. Có thể sinh sản, sử dụng thông tin di truyền để tạo ra bản sao của bản thân
  5. Các bản sao có sự khác biệt nhất định với bản gốc, qua thế hệ, đặc điểm của sinh vật sống dần thay đổi khi tiến hóa và thích nghi với môi trường

– Điều kiện Goldilocks cho sự sống trên Trái Đất:

  1. Hệ Mặt trời nằm trong khu vực có khả năng có sự sống của thiên hà (phía phải, cách trung tâm khoảng ⅔ quãng đường)
  2. Quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời nằm ở giữa vùng phù hợp” các phản ứng hóa học chỉ hoạt động tốt ở nhiệt độ tương đối thấp
  3. Sự xuất hiện của các chất lỏng
  4. Đa dạng hóa học (tồn tại các nguyên tố khác trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học)

– LUCA (Last Universal Common Acestor) tổ tiên chung phổ quát cuối cùng: là tên gọi giả định của sinh vật đầu tiên hình thành và phát triển. Hiện nay chưa có lời giải thích đầy đủ. 

– Trái Đất và sự sống tạo nên sinh quyển. Sự sống tồn tại được nhờ nhiệt độ thích hợp, do Mặt Trời chiếu tới và do nhiệt độ từ lõi Trái Đất. Bộ điều nhiệt địa chất hoạt động nhờ vào sự kiến tạo mảng (nhiều hành tinh khác không có khả năng này) và sự xói mòn.

  • Sinh vật sống chia làm 3 hệ thống lớn: Cổ khuẩn, Vi khuẩn (toàn bộ sinh vật nhân sơ đơn bào) và Sinh vật nhân chuẩn (SV đơn bào phức tạp, và SV đa bào).
  • Liên đại Thái Cổ (4 tỉ năm trước): Ban đầu chỉ tồn tại Cổ khuẩn, sau đó là vi khuẩn xuất hiện từ khá sớm. Chúng đóng vai trò thống trị trong sinh quyển. 
  • 3,5 tỉ năm trước, đặc điểm tiến hóa mới – quang hợp, giúp sinh vật tiếp xúc được năng lượng từ Mặt trời. Tuy nhiên, do vậy mà Oxy được thải vào không khí nhiều hơn, dẫn tới sự kiện oxy hóa vĩ đại – sự tăng oxy. Đối với các sinh vật nhân sơ, oxy là chất độc hại, nhiều sinh vật đã chết. Bộ điều nhiệt của Trái đất rối loạn, khí nhà kính giảm (CO2 – do vi khuẩn lam tiêu thụ hết, và metan do oxy tự do phá vỡ). Kết quả là Trái Đất bị đóng băng trong hơn 100 triệu năm, từ 2,35 đến 2,22 tỉ năm trước (liên đại Nguyên Sinh).
  • Khí nhà kính tích tụ dưới băng và cuối cùng phá vỡ sông băng, Trái Đất nóng lên trở lại. Một loại sinh vật mới xuất hiện giúp hút bớt oxy ra khỏi không khí, thông qua hô hấp.
  • Khoảng 1,8 tỉ năm trước: các sinh vật nhân chuẩn đầu tiên xuất hiện. Chúng tiến hóa theo thuyết nội cộng sinh.
  • Liên đại Hiển Sinh: kỷ nguyên của sự sống lớn.
  • Metazoan: sinh vật đa bào đầu tiên (từ cuối Nguyên sinh, khoảng 600 triệu năm trước) 
  • Đầu kỷ Ediacara, từ 635 triệu tới 540 triệu năm trước, số lượng lớn sinh vật đa bào. 
  • Các kỷ tiếp theo Ordovic-Devon-Cacbon-Permi, Trái Đất xanh hóa, khí quyển với nồng độ oxy cao và CO2 thấp.
  • Kỷ Trias (250 đến 200 triệu năm trước) Khủng long xuất hiện. Jura (200-150tr năm trước) Khủng long trở nên lớn hơn. 
  • Kỷ nguyên đại Tân sinh:
  • Kỷ Creta (65tr năm trước): Một tiểu hành tinh va chạm Trái Đất (dấu vết còn lại tại Yucatan, Mexico ngày nay), kết thúc sự sống của khủng long, đưa Trái Đất tạm  thời chìm trong bóng tối trong 1-2 năm do khói bụi. 
  • 56 triệu năm trước: Thời kỳ tối đa nhiệt PETM: quá trình nóng lên do hiệu ứng nhà kính ngắn và nhanh (có nhiều tương đồng với hiệu ứng nhà kinh ngày nay) kết quả chính là nhiệt độ trung bình tăng 5-9 độ C. Lý do có thể là sự nóng lên ở 2 địa cực Trái Đất khiến giải phóng lượng lớn luồng khí metan, làm mọi thứ nóng lên rất nhanh. 
  • Sau 200 nghìn năm, Trái Đất dần nguội lại, băng tích tụ ở 2 cực, mực nước biển giảm, quỹ đạo và độ nghiêng Trái Đất thay đổi, năng lượng của Mặt Trời tới Trái Đất vì thế thay đổi. (hiện tại vẫn là các giả thiết về tại sao nhiệt độ lại nguội lại).
  • 2,6 triệu năm trước: thời kỳ băng hà.

Ngưỡng 6: Con người

– Con người, tinh tinh và khỉ đột có chung tổ tiên cho tới 8 triệu năm trước. 6-7 triệu năm trước, còn lại con người và tinh tinh còn chung tổ tiên.

– Các sinh vật thuộc nhánh con người sau đó trong quá trình phân tiến hóa (giữa người và tinh tinh) đều thuộc hominin. Tuy nhiên hiện nay chúng ta là loài hominin duy nhất còn sót lại. 20-30 nghìn năm trước, vẫn còn các loại hominin khác tồn tại, vì vậy đây là điều không bình thường.

– 2-300 nghìn năm trước, Homo sapiens xuất hiện. Khoảng 10.000 năm trước, số lượng con người tăng nhanh, ảnh hưởng bùng nổ tới Trái Đất (đại dương ngày càng có tính axit, không khí nóng lên, đa dạng sinh học giảm nhanh…) chưa có loài nào có sức mạnh như vậy trong lịch sử 4 tỉ năm của sinh quyển. 

– Ngôn ngữ là công cụ cho phép con người chia sẻ và tích lũy rất nhiều thông tin, kiến thức tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác, gọi là cơ chế học tập tập thể. 

– Cơ chế cạnh tranh loại trừ giúp 1 loài có thể loại bỏ đối thủ của mình qua việc khai thác môi trường của nó một cách hiệu quả hơn. Điều này giải thích loại người gần nhất của ta đã diệt vong, và hiện nay tinh tinh và khỉ đột đang dần tuyệt chủng.

Ngưỡng 7: Canh tác/Nông nghiệp

– Công nghệ mới, áp lực gia tăng dân số, khí hậu ấm áp hơn của thế Holocene >> nông nghiệp bắt đầu phát triển.

– Nguyên tắc cơ bản của nông nghiệp: tăng sản lượng cây trồng và động vật có ích cho con người, hạn chế sinh trưởng của cây và con mà không thể sử dụng.

– Nông nghiệp xuất hiện đầu tiên ở khu vực Á-Âu-Phi, nơi nó mở rộng nhanh nhất và có tác động lớn nhất. 14 nghìn năm trước, người hái lượm đã di cư tới mọi khu vực trên thế giới, tại lục địa Á-Âu-Phi, con người bắt đầu ổn định và sắp xếp lại môi trường. 5 nghìn năm sau, các làng nông nghiệp xuất hiện. Cho tới 4 nghìn năm trước, hầu hết con người đã bị phụ thuộc vào nông nghiệp. Việc phát triển nông nghiệp là khác nhau tùy các khu vực trên thế giới.

– Dư thừa lương thực, dẫn đến dư thừa lao động, các vai trò xã hội mới xuất hiện. Sau đó là giao dịch thương mại, công cụ tài chính… Quá trình chuyên môn hóa tăng, sự bất bình đẳng tăng theo. Xuất hiện tầng lớp thiểu số giàu có, quyền lực xuất hiện và tăng cao, xã hội trở nên tuân theo các quy tắc chung của những người cai trị. Vũ lực được sử dụng để ép buộc lao động, sản xuất hoặc bòn rút của cải. Sau đó, nhà nước thành thị ra đời trong các xã hội đông đúc và giàu có, đánh dấu một bước chuyển đổi cơ bản trong xã hội loài người.

– Lịch sử của các thành thị, nhà nước đầu tiên được ghi nhận ở Sumer, miền nam Lưỡng Hà, Thành phố Uruk được xem là thành phố đầu tiên, khoảng 5500 năm trước, cai trị bởi vua Gilgamesh. 5000 năm trước, chữ viết đầu tiên xuất hiện tại thành phố này ở các đền thờ Eanna. 

– Các nhà nước là các hệ thống thích nghi phức tạp, tương đồng nhiều với đặc điểm của sinh vật sống (có biên giới dạng bán thấm, có trao đổi chất, theo dõi thông tin về tài nguyên và kẻ thù của chúng để điều chỉnh theo môi trường, có quy tắc – như tế bào có bộ gen). Chúng cũng phát triển theo thời gian.

– Việc trao đổi hàng hóa mở rộng, khoảng 2000 nghìn năm trước Con đường tơ lụa đã chứng kiến sự trao đổi tấp nập xuyên lục địa Á-Âu-Phi, nhưng cũng đồng thời lan truyền bệnh dịch. Thời gian này đã có các Đế chế lớn: La Mã, Sassanian, Kushan, Mauryan và Hán. Thiên niên kỷ tiếp theo, nhiều Đế chế sụp đổ bao gồm cả La Mã và Hán.

– Đáng kinh ngạc nhất là sự trỗi dậy của hệ thống chính trị mới gắn với tôn giáo mới, Islam, vào TK8. TK13, Đế quốc Mông Cổ được dựng nên bởi người du mục và do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo. Dù tồn tại chưa được 1 TK nhưng đây là đế chế lớn nhất từng được tồn tại cho đến ngày nay, là đế chế đầu tiên thống trị lục địa Á-Âu-Phi. 

– Tới năm 1400, thế giới vẫn chia thành các khu vực riêng biệt. Tuy nhiên dân số tăng và áp lực về tài nguyên càng lớn, tới 1492, Columbus đã khám phá ra khu vực châu Mỹ, đánh dấu sự toàn cầu hóa đầu tiên. Việc này sẽ biến đổi sinh quyển nhiều như nó đã biến đổi lịch sử loài người.

– Thế giới tư tưởng con người đã biến đổi. Họ tìm hiểu điều mới về thế giới chứ không dừng lại ở những gì người xưa để lại. Thế kỷ 17, nhiều học giả đã hiểu rằng họ đang sống trong cuộc cách mạng trí tuệ, địa lý và thương mại, các kiến thức mới này gia tăng sức mạnh của con người với thế giới tự nhiên.

– Những phát kiến lớn và quan trọng nhất thường là sự giải phóng những dòng năng lượng mới, ví dụ: phản ứng tổng hợp hạt nhân, quang hợp, nông nghiệp. Cuối TK18 đầu 19, các nhà kinh tế nghi ngờ rằng năng lượng bắt đầu cạn kiệt vì đã được sử dụng tối đa, hết đất nông nghiệp canh tác… Từ đó dẫn tới Cách mạng Nhiên liệu hóa thạch (than, dầu mỏ, khí đốt…). Việc khai thác than ngày càng gia tăng, theo sau đó là phát minh về động cơ hơi nước vào TK 18 bởi James Watt.

– Cách mạng công nghiệp: Anh được hưởng lợi đầu tiên từ phát triển nhiên liệu hóa thạch, tạo ra ⅕ GDP toàn cầu, cũng như ½ lượng khí thải toàn cầu từ nhiên liệu này. Tới đầu TK 19, điện được phát minh và cung cấp những cách phân phối năng lượng mới hiệu quả hơn, cách mạng hóa truyền thông giữa con người. Công nghệ mới cũng cách mạng hóa chiến tranh và vũ khí. Chất nổ được Alfred Nobel phát minh vào 1866. Nội chiến Hoa Kỳ là cuộc chiến tranh nhiên liệu hóa thạch đầu tiên. Châu Âu nhờ đó mà chinh phục phần lớn thế giới trong cuối TK19, trong thời kỳ của chủ nghĩa đế quốc. Dầu mỏ cũng trở nên quen thuộc khắp thế giới

Ngưỡng 8: Nhân loại

– Lần đầu tiên trong lịch sử 4 tỷ năm của sinh quyển, một loài sinh học đã trở thành lực lượng chi phối sự thay đổi. Trái Đất bước vào thời đại địa chất mới – thế Anthropocene hay kỷ nguyên của con người. 

HỒI 1: Từ giữa TK19 – cuối TK19

Khoảng cách về sự thịnh vượng và quyền lực lớn giữa cường quốc nhiên liệu hóa thạch và phần còn lại của thế giới, tạo nên chủ nghĩa đế quốc lệch lạc. Các quốc gia khu vực Đại Tây Dương đột nhiên bắt đầu thống trị và cai trì phần lớn thế giới, bao gồm châu Phi và phần lớn lãnh thổ trước đây được cai trị bởi các đế chế châu Á vĩ đại là Ấn và Trung, tạo nên ý thức ưu thế của châu Âu hoặc phương Tây. Họ tin rằng đó là nhiệm vụ của họ để cải thiện thế giới, văn minh hóa, hiện đại hóa phần còn lại của thế giới.

HỒI 2: Cuối TK19- giữa TK20

Cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc về thương mại, cuối cùng dẫn tới chiến tranh thế giới thứ Nhất và thứ Hai. Họ cùng phát triển những vũ khí có tính hủy diệt hơn. Ngày 6/8/1945, máy bay ném bom B-29 Superfortress của Hoa Kỳ bay từ Quần đảo Mariana Thái Bình Dương thả một quả bom nguyên tử xuống Hiroshima, giết chết 80 nghìn người, phá hủy thành phố (và 70 nghìn người chết trong năm tiếp theo vì bị thương và phóng xạ). Ngày 9/8//1945, một quả bom khác rơi xuống thành phố Nagasaki.

HỒI 3: Nửa sau TK20 và đầu TK21

Hoa Kỳ và Liên Xô trở thành siêu cường toàn cầu đầu tiên. Thế giới hiểu rằng không có chiến thắng trong một cuộc chiến tranh hạt nhân, và Chiến tranh Lạnh nổ ra. Bốn thập niên sau WWII, thế giới bắt đầu bứt phá ngoạn mục bởi tăng trưởng kinh tế. Đây là thời kỳ Đại gia tốc.

Năng suất và tiêu thụ tăng vọt, tầng lớp trung lưu mới xuất hiện, cách mạng công nghiệp lan rộng toàn cầu. Một thế giới với nhiều trung tâm quyền lực và thịnh vượng xuất hiện. Trong thời kỳ Đại gia tốc, con người đã huy động năng lượng và tài nguyên ở quy mô chưa từng có, tới mức biến đổi sinh quyển. 

 Công nghệ và khoa học

Thông tin đóng vai trò trung tâm của công nghệ ở thế Anthropocene. Công nghệ thông tin được nâng cấp giúp tích lũy, lưu trữ, theo dõi, sử dụng lượng data khổng lồ thúc đẩy sự đổi mới và duy trì xã hội hiện đại cực kỳ phức tạp. Trí quyển – lĩnh vực của tâm trí, trở thành động lực chi phối của sự thay đổi sinh quyển. Cái máy tính giá rẻ kết nối hàng tỉ người truy cập vào lượng thông tin nhiều hơn những gì có thể tìm thấy trong tất cả các thư viện trên thế giới. Máy tính đã tăng sức mạnh chia sẻ thông tin của con người lên nhiều lần. Tuy nhiên, kỹ năng ghi nhớ thông tin và tính toán đang bị từ bỏ.

Đằng sau tất cả thay đổi này là nguồn năng lượng rẻ tiền từ nhiên liệu hóa thạch. Tiêu thụ năng lượng của con người tăng nhanh hơn nhiều so với dân số. 

Quản trị và xã hội

Con người đã trở thành người làm công ăn lương, khiến vai trò của Chính phủ cũng thay đổi, phải tham gia vào cuộc sống hàng ngày của tất cả các công dân. Những người làm công ăn lương không thể tồn tại mà không có chính phủ. Chính phủ thông qua trường học và phương tiện truyền thông, đã cố gắng tiếp cận suy nghĩ của các công dân và xây dựng các hình thức trung thành mới: chủ nghĩa dân tộc.

Các chính phủ hiện đại có quy mô, tầm vóc, quyền lực và sức mạnh khiến ngay cả những chính phủ quyền lực nhất của thời đại nông nghiệp cũng chỉ như một sợi lông chim. Cuối TK20, nhiều cấu trúc chính trị đã quản lý, tư vấn và quản trị trên quy mô toàn cầu như United Nations, IMF, NGOs, Red Cross…

Cách sống mới

Hầu hết mọi người không còn sống ở làng mà ở các thành phố và thị trấn, trong môi trường gần như hoàn toàn được định hình bởi hoạt động của con người. Mọi người dành nhiều thời gian cho học tập nâng cao trình độ, số người có mức dinh dưỡng và sức khỏe cao ngày càng tăng. Chỉ trong một thế kỷ, các thay đổi về chăm sóc sức khỏe đã làm tăng gấp đôi tuổi thọ trung bình của con người. 

Phần mới mối quan hệ giữa các cá nhân đã hiền hòa hơn. Bạo lực cá nhân so với tổng số người trên thế giới đã giảm nhiều so với trước đây và không còn được coi là một cách kiểm soát hành vi.

Thế giới tiêu dùng ngày nay hoàn toàn khác. Ý tưởng về sự tiến bộ cũng là mới. Thái độ về con cái và trẻ em đã thay đổi sâu sắc. Sự gia tăng dân số cực kỳ nhanh chóng đã diễn ra trong các thế kỷ gần đây, tuy nhiên quá trình chuyển đổi nhân khẩu học mới bắt đầu xuất hiện: mức sinh thấp và tỷ lệ tử vong thấp. Trong TK20, tốc độ gia tăng dân số bắt đầu chậm lại, ban đầu là các nước phát triển, và sau đó toàn thế giới, đồng thời làm thay đổi vai trò giới.

Biến đổi sinh quyển

Hoạt động con người làm thay đổi sự phân bố và số lượng sinh vật, thành phần hóa học của đại dương và khí quyển, sắp xếp lại cảnh quan và sông ngòi, mất cân bằng các chu trình hóa học cũ lưu thông ni tơ, cacbon, oxy và photpho qua sinh quyển.

Cacbon  là trung tâm hóa học của sự sống, giúp xác định nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất. Trong 2 thế kỷ từ cách mạng côn nghiệp, mức CO2 trong không khí đã tăng lên mức cao nhất trong gần 1 triệu năm qua. Tỉ lệ khí metan trong không khí cũng tăng nhanh trong 2 thế kỷ qua, do sự mở rộng của trồng lúa nước và số lượng vật nuôi ngày càng tăng. Trong một vài thập niên, khí hậu toàn cầu sẽ biến đổi rất khác so với các hình mẫu ổn định của thế Holocene.

Việc lấy đi ngày càng nhiều tài nguyên sinh quyển của con người đã loại bò các động vật có vú lớn khác, cũng như các động vật và thực vật không có giá trị tức thời đối với con người. Chúng giảm nhanh tới mức có suy đoán rằng chúng ta đang ở giai đoạn đầu của một sự kiện tuyệt chủng hàng loạt khác. Tốc độ tuyệt chủng đang tăng nhanh lớn hàng trăm lần so với vài triệu năm trước. Họ hàng gần nhất của con người là tinh tinh, khỉ đột, đười ươi đã gần tuyệt chủng trong tự nhiên.

Con người đã tạo ra nhiều vật liệu mới chưa từng tồn tại trước đây (nhựa, bê tông, thép không gỉ, nhôm nguyên chất). Thay đổi đáng sợ nhất là năng suất chế tạo vũ khí, có sức mạnh hủy diệt tương đương với tiểu hành tinh đã từng làm khủng long biến mất.

Nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch tạo ra quá lớn, được sử dụng cho nhiệm vụ khác là cải thiện đời sống con người. Tầng lớp trung lưu ngày càng tăng, số lượng người sống trên mức sinh hoạt tối thiểu cũng tăng. Nghịch lý thay, tỉ lệ người sống trong nghèo đói cùng cực vẫn cao hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người.

Mặt tốt của thế Anthropocene là tạo ra cuộc sống tốt hơn cho hàng tỷ người bình thường, khi điều kiện chăm sóc sức khỏe, mức tiêu thụ và mức sống tăng. Mặt tiêu cực của nó là tạo sự bất bình đẳng rất lớn. Vẫn còn khoảng 45 triệu người sống như nô lệ trong thời đại ngày nay (2016). Bất bình đẳng này dễ dẫn tới xung đột, trong một thế giới có vũ khí hạt nhân thì bất cứ cuộc xung đột nào cũng có thể tạo thảm họa cho toàn nhân loại. Ngoài ra, mặt tiêu cực còn là giảm đa dạng sinh học, suy yếu hệ thống khí hậu ổn định.  

Chương cuối: Tương lai

Đây là chương ngắn gọn nhưng quan trọng nhất của quyển sách.

Rất ít hệ thống giáo dục hiện đại dành nhiều thời gian giảng dạy một cách hệ thống về tương lai. Vật lý lượng tử đã chỉ ra, ở quy mô nhỏ nhất, vũ trụ không có tính xác định. Những điều xảy ra bất ngờ đều có thể đưa tương lai nhân loại theo nhiều hướng khác nhau, tương tự như “hiệu ứng cánh bướm”. Nhiều chương trình dự báo đã lỗi thời vì không thể dự báo về một đại dịch dựa trên một đột biến gen nhỏ ở virus, hay tác động của vụ nổ siêu sao mới gần đó, mặc dù ta có thể dự báo tác động có thể xảy ra của sự va chạm giữa các tiểu hành tinh. 

100 năm tới thực sự quan trọng. Một sự sụp đổ tiềm tàng có liên quan tới 7 tỷ người đang hiện diện, vì vậy con người hiện đại có một nhiệm vụ cần thực thi, đó là tránh các sự cố và có được nơi tốt đẹp cho cả người và sinh quyển.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s